The Muse của Jessie Burton – phần 2 tuyệt vời theo sau The Miniaturist

The Miniaturist là một tác phẩm thành công vang dội của Jessie Burton năm 2014 nhờ vào trí tưởng tượng mạnh mẽ của cô: đọc giả rất nóng lòng muốn biết liệu tác giả có thể duy trì vẻ đẹp của The Miniaturist trong tác phẩm thứ hai của cô. Nếu trong The Miniaturist cô đã tạo nên một xã hội Amsterdam thế kỷ thứ 17 cực kỳ bảo thủ, thì trong The Muse, Burton một lần nữa đã nghiên cứu kỹ lưỡng để tái dựng không chỉ một mà hai thời đại hoàn toàn khác nhau của thế kỷ 20, và kết nối chúng lại với nhau bằng một câu chuyện tinh tế. Với đam mê dành cho dòng truyện này, làm sao đọc giả có thể trách cô được?

Vào mùa hè năm 1967 một người phụ nữ trẻ tuổi tên là Odelle Bastien xin được vào làm tại học viện Skelton, một phòng tranh cao cấp kín đáo tại quận St. James’s. Từ đảo Trinidad, Venezuela, đến London vào 5 năm trước, và cô đã phải tạm gác giấc mơ trở thành một nhà văn để tìm công việc giúp cuộc sống ổn định, mà để làm được điều này đồng nghĩa cô sẽ đi nuôi một giấc mơ của người khác, bán giày tại Dolcis. Nữ giám đốc khác thường của Học viện Skelton, Marjorie Quick, bắt gặp tiềm năng của người phụ nữ trẻ này và đưa cô một đề nghị sẽ trả £10 một tuần để cô trở thành một người đánh máy. Tại đám cưới của Cynth, cô bạn của Odelle, Odelle gặp Lawrie – người vừa thừa kế một bức tranh vẽ một con sư tử anh nghĩ sẽ rất giá trị. Khi Skelton thấy bức tranh họ đã rất hứng thú với nó, duy chỉ có giám đốc Quick sửng sốt khi nhìn thấy bức tranh, cứ như bà vừa thấy một con ma.

Nguồn gốc của bức tranh được hé lộ ở một thời đại khác trong The Muse, bắt nguồn tại miền nam Tây Ban Nha năm 1936. Cô bé Olive Schloss 19 tuổi vừa chuyển đến một căn nhà lớn gần ngôi làng Arazuelo với bố mẹ, bố là Harold, một tay buôn tranh nghệ thuật người Vienna và mẹ là Sarah, một người phụ nữ thừa kế cơ đồ kinh doanh gia vị thực phẩm của gia đình đã khiến bà trở nên cực kỳ giàu có và thông minh. Dù Olive cực kỳ có năng khiếu, nhưng cô đã giấu bố mẹ từ chối một vị trí trong trường Slade – trường nghệ thuật hàng đầu tại địa phương, phần vì sự cáu kỉnh của mình, phần vì Olive cảm thấy có một định mệnh nào đó đang chờ đón mình. Định mệnh của cô đã đến, dưới hình hài của Isaac Robles và người em họ Teresa của hắn, hai đứa con hoang của tay địa chủ, luồng lách để xâm nhập vào gia đình Schloss. Câu chuyện ngày càng gây cấn khi đọc giả không thể biết chúng có ý đồ xấu hay tốt. Teresa, chỉ 16 tuổi, là một người gây bạo loạn chính trị tìm người tài trợ cho cuộc cách mạng mới của mình, những dấu hiệu khiến gia đình Schloss ngày càng muốn tránh xa. Hai bọn họ bày mưu để lừa Harold, cướp sự tài trợ từ nhà sưu tập nghệ thuật Peggy Guggenheim và trở thành một hiện tượng trên thị trường nghệ thuật toàn cầu.

Burton, đánh đu giữa hai thời đại và giọng văn này, đã đặt những hồi chuông và tiếng vang trong cả hai bức tranh chân dung của sự sáng tạo tiềm ẩn trong The Muse. Nếu Teresa đóng vai trò là người đỡ đầu cho tài năng của Olive, thì bà Quick sẽ là người đỡ đầu cho tài năng Odelle bằng cách kể câu chuyện của Odelle trong tạp chí văn học danh giá, dù chẳng biết mục đích ẩn giấu đằng sau là gì: “Tôi đã viết với mục đích được mọi người chấp nhận câu chuyện của mình quá lâu, đến mức tôi quên từ đầu sự bốc đồng này hình thành…viết hay với mục đích này khiến tôi mất niềm tin về khả năng của mình chính mình.” (Lời văn này cũng như một sự bộc bạch của chính tác giả Burton, thú nhận rằng cô đã gặp khủng hoảng tinh thần và trầm cảm sau sự thành công của The Miniaturist.) Dần dần, chủ đề về sự chiếm hữu đan xen nhau khi cả Olive lẫn Odelle đều theo đuổi ảo tưởng về nghệ thuật chân chính, một không gian thể hiện món quà của họ mà không bị ràng buộc. Bạn đọc cũng sẽ nhận thấy sự căm phẫn của người phụ nữ trước bộ máy xã hội ngày xưa: Harold, giống như những người đàn ông khác thời bấy giờ, từ chối chấp nhận ý niệm rằng một người phụ nữ, chưa nói đến con gái của chính anh, có thể là một họa sĩ tuyệt vời.

Burton xây dựng cốt truyện song song với tay nghề cực kỳ khéo léo, cô cũng rất nhạy với những xung động thiên nhiên chung quanh khung cảnh mình đang tả:

the cicadas began to build their rasping wall of sound…

Bees drowsing on the fat flower heads, farmers’ voices calling, birdsong arpeggios spritzing from the trees…

Nếu giữa hai câu chuyện, thời đại Tây Ban Nha lại sống động hơn có lẽ bởi vì Burton mô tả chi tiết hơn quá trình vẽ tranh, và những ảnh hưởng mà một bức tranh có thể tạo ra. Qua những đoạn văn bạn đọc có thể nhận thấy tác giả đã nghiên cứu rất kỳ lịch sử nghệ thuật trong những năm chiến tranh. Cô cũng nghiên cứu kỹ về cuộc nội chiến Tây Ban Nha. Tất nhiên, bất kỳ tiểu thuyết gia lịch sử nào đều phải đương đầu với một vài quá trình đầy thử thách, công việc đọc – sau đó lại cất giấu đi – nhiều chồng giấy, sách lịch sử và gom gọn lại chỉ trong vài đoạn văn.

The Muse Jessie Burton
Topping Books

Bài toán để khiến ngôn ngữ trở nên thực tế với thời đại hiện đại của chúng ta đã khiến thậm chí những nhà văn lỗi lạc không thể giải mã được; sự chênh lệch về niên đại là một con quái vật của tiểu thuyết lịch sử. The Muse mạnh mẽ về cảm xúc, thay vì mạnh về nội tâm (như ở câu “I had to hold in the tsunami of sound I wanted to unleash”). The Muse là một cuốn tiểu thuyết đầy trình độ từ Burton, ngòi bút của cô chắc chắn, những cảm xúc chân thành luôn dai dẳng cho tới phút cuối của câu chuyện.

Theo Anthony Quinn

Trả lời

Loading…

0